Thursday, February 20, 2014

Cách ăn uống, vận động khi bị máu nhiễm mỡ

Filled under:

Tăng mỡ máu, rối loạn mỡ máu gây ra mỡ trong máu có thể dẫn đến bệnh xơ vữa động mạch và các bệnh lý tim mạch nguy hiểm khác.
Vì vậy, việc quan trọng là giữ sức khỏe để tránh tình trạng máu nhiễm mỡ. Khi không may bị máu nhiễm mỡ, việc giảm mỡ trong máu cũng phải đúng cách mới có hiệu quả.

Vận động vừa đủ và đúng cách
Đưa gia đình đi khám sức khỏe định kỳ, Chị Hải ở Tây Hồ, Hà Nội ngỡ ngàng khi bác sĩ kết luận anh bị nhiễm mỡ máu. Chị Hải cho rằng kết quả có sự nhầm lẫn, vì thân hình của chị hoàn toàn cân đối, thi thoảng chị cũng tập thể dục, đến phòng tập gym thì không thể có tình trạng mỡ trong máu được. Nhưng khi đi khám lại ở bệnh viện lớn thì kết quả của chị vẫn không thay đổi.
Từ khi biết bệnh, được bạn bè tư vấn nên chị vận động nhiều hơn. Ngoài 1 tiếng tập gym mỗi chiều, chị còn tập luyện thêm một số môn thể thao khác.
Tuy nhiên, thói quen rèn luyện sức khỏe đó không được duy trì lâu. Những lúc rảnh rỗi thì chị tập chăm chỉ nhưng những hôm hơi mệt, không vui, thay đổi thời tiết hoặc có hẹn… là chị có thể sẵn sàng bỏ tập. Vì vậy, tái khám sau 6 tháng, tình trạng máu nhiễm mỡ của chị vẫn không có sự tiến triển tốt.
Bác sĩ Lê Thị Phương Huệ, Bệnh viện đa khoa Thanh Nhàn cho biết, nhiều người vẫn lầm tưởng rằng vận động thể dục thể thao với cường độ mạnh hoặc chỉ cần có vận động là sẽ có tác dụng tiêu đường, giảm mỡ trong máu. Nhưng thực tế thì không phải vậy.
Vì vậy, tập luyện cũng phải đúng cách, đủ liều lượng, đều đặn mỗi ngày hoặc tối thiểu 3 lần/tuần. Việc đi bộ nhanh 60 phút/ngày sẽ giúp giảm cholesterol và triglycerid máu.
Chế độ ăn uống phù hợp
Mấy tháng trước, chị Thanh ở Hà Đông, Hà Nội cùng một số đồng nghiệp đi thử máu. Mặc dù người gầy ốm nhưng chị vẫn được xác định cholesterol cao, mỡ máu tăng. Cho rằng nguyên nhân có thể xuất phát từ chế độ ăn uống nhiều mỡ, ngay từ hôm đó chị tránh xa những món ăn nhiều dầu mỡ.
Vậy nhưng, kiêng mỡ gần năm trời mỡ máu không thay đổi nhiều, đi khám bác sĩ vẫn xác nhận lượng mỡ máu vẫn cao.
Theo bác sĩ Huệ thì những người ăn uống nhiều chất mỡ, tinh bột, đường và lười vận động có thể sẽ tăng trọng lượng rất nhanh. Tuy nhiên, không có nghĩa là những người mập thì mỡ máu sẽ cao.

Thường thì khi cơ thể đến lứa tuổi trên 50, chuyển hóa đã bắt đầu kém không chuyển hóa hết mỡ hàng ngày do thức ăn đưa vào trong cơ thế, do đó dù ăn ít mỡ hoặc gầy ốm cũng có thể bị mỡ cao trong máu gọi là rối loạn chuyển hóa mỡ do tuổi già. Tuy nhiên, ngày nay nhiều người mới ở độ tứ tuần đã có dấu hiệu thừa mỡ máu.
Để khắc phục tình trạng cholesterol trong máu, điều quan trọng nhất là điều chỉnh chế độ ăn. Đối với loại thực phẩm cung cấp chất đạm, nên ưu tiên các loại thịt trắng như gà, lợn, ếch, cá.
Chế độ tiết thực nhằm làm hạ cholesterol trong máu, theo khuyến cáo mới nhất của Hội Tim mạch Mỹ là cung cấp dưới 30% calo từ chất béo và dưới 10% năng lượng từ các chất béo bão hòa.
Để phòng bệnh cũng như giảm tình trạng bệnh, bạn năng cường chất xơ trong bữa ăn, nên nạp đủ acid folic, ăn nhiều rau và trái cây để có các chất kháng oxy-hóa, ăn nhiều tỏi. Tránh các thức ăn có chứa chất béo và cholesterol như bơ, thịt lợn mỡ xông khói, dầu cọ, dầu dừa; thay bằng dầu thực vật như dầu ôliu, đậu nành, ngô… cũng là một cách phòng và chữa bệnh rất tốt.
Ngoài ra, bạn cũng cần chế ăn các loại thịt, cá xuống còn 150-200g/ngày, ăn không quá 3 quả trứng/tuần và phải ăn cách ngày; kKhông ăn thịt mỡ, phủ tạng động vật, da của các loại gia cầm, thay thế bằng đạm thực vật như đậu tương…; tăng cường ăn rau quả; tránh các thức ăn nhanh như bánh hamburger, bánh có nhân thịt băm, thịt rán, bánh gatô…
Tuy nhiên, bác sĩ Huệ cũng cho rằng nếu chỉ điều chỉnh vận động hoặc chế độ ăn uống thì không thể giảm mỡ máu hiệu quả được. Muốn giảm mỡ máu cách tốt nhất là kết hợp giữa vận động đúng cách và chế độ ăn phù hợp. Nên vận động nhẹ vừa, kéo dài liên tục 30 phút, lý tưởng nhất là khoảng 1 tiếng đơn giản nhất là đi bộ kết hợp với tiết thực giảm mỡ, đường.
(Afamily)


Posted By Nguyen Minh Quang11:59 PM

Biện pháp phòng tránh biến chứng do tăng huyết áp

Filled under:

Mỗi người, tùy độ tuổi, tình trạng bệnh lý xác định một mục tiêu huyết áp cần đạt và áp dụng các biện pháp phòng tránh biến chứng tăng thích hợp.
Phòng tránh biến chứng do tăng huyết áp
Tăng huyết áp là bệnh lý phổ biến và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Tăng huyết áp gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Bệnh tăng huyết áp cần điều trị lâu dài, liên tục và đạt được huyết áp mục tiêu mong muốn nhằm hướng tới cải thiện chất lượng lâu dài cho cuộc sống người bệnh. Nếu điều trị tốt tăng huyết áp có thể giảm 20-25% nhồi máu cơ tim, 35-40% nguy cơ đột quỵ, 50% nguy cơ suy tim, 30-40% nguy cơ tử vong do tim mạch và giảm nguy cơ bị đái tháo đường.
Theo thạc sĩ, bác sĩ Bùi Thanh Quang, Phó khoa điều trị ngoại, Viện Tim TP HCM, mỗi người cần xác định mục tiêu huyết áp cần đạt được. Với người bệnh đái tháo đường, suy thận, tai biến mạch máu não, cần đạt huyết áp dưới 130/80 mmHg. Người suy tim cần giữ huyết áp ở mức dưới 120/80 mmHg. Người trên 80 tuổi cần duy trì huyết áp tâm thu dưới 145-150, huyết áp tâm trương dưới 90 mmHg. Với nhóm người không có bệnh lý khác đi kèm, cần giữ huyết áp dưới 140/90 mmHg.

Theo bác sĩ Thanh Quang, một số biện pháp phòng tránh biến chứng do tăng huyết áp như sau:
Biện pháp không dùng thuốc, áp dụng khi huyết áp tăng trên 120/80 mmHg nhưng dưới 160/90 mmHg.
- Cai thuốc lá.
- Cai bia rượu đối với người nghiện nặng, có thể uống dưới 30ml rượu mạnh, dưới 720 ml bia trong một ngày.
- Giảm ăn mặn, ăn ít hơn 4g muối mỗi ngày, ít hơn 1 muỗng cà phê muối, hoặc ít hơn 2 muỗng canh nước mắm hoặc nước tương.
- Chế độ ăn nhiều rau, ít trái cây, ít béo.
- Tập thể dục ít nhất 30-45 phút mỗi ngày và tập đều đặn 7 ngày một tuần.
- Giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì.
Dùng thuốc hạ huyết áp
Nếu thực hiện biện pháp không dùng thuốc mà vẫn chưa đạt được huyết áp mục tiêu mong muốn thì cần phối hợp thêm thuốc hạ huyết áp. Ngày nay thuốc hạ huyết áp có rất nhiều nhóm và rất nhiều loại thuốc mới có tác dụng tốt. Mỗi loại thuốc có ưu thế cho từng  nhóm đối tượng tăng huyết áp. Vì thế, cần có ý kiến và chỉ định của thầy thuốc, người bệnh không nên tự ý sử dụng thuốc hoặc sao chép đơn thuốc của người khác để tự điều trị.
Điều trị đái tháo đường
Người bị tăng huyết áp có kèm theo đái tháo đường nếu không kiểm soát tốt đường huyết, huyết áp thì nguy cơ bị bệnh tim mạch rất cao. Kiểm soát tốt đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 giúp giảm 24% nguy cơ biến chứng tim mạch. Mục tiêu HbA1C cần đạt ở người có nguy cơ tim mạch cao, đã từng bị nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não là dưới 7%.
Rối loạn lipid máu
Người bị tăng huyết áp có kèm rối loạn chuyển hóa lipid nếu không được điều trị tốt cả 2 bệnh này thì nguy cơ biến chứng tim mạch tăng rất cao. Ngược lại, nếu điều trị bệnh tốt thì cứ giảm được 10% trị số huyết áp và 10% cholesterole toàn phần sẽ giúp giảm tới 45% nguy cơ bị tử vong do biến chứng tim mạch.
Bác sĩ Quang lưu ý, sau một thời gian điều trị huyết áp đã ổn định, đạt huyết áp mục tiêu thì không nên tự ý dừng thuốc mà duy trì điều trị theo liều lượng được điều chỉnh bởi thầy thuốc. Chỉ ngừng thuốc khi có ý kiến chỉ định của thầy thuốc.
(VNE)

Posted By Nguyen Minh Quang11:55 PM

Điều chỉnh lối sống để trị tăng huyết áp

Filled under:

Một số nghiên cứu cho thấy nhờ điều chỉnh lối sống nhiều người giảm được tình trạng tăng huyết áp.
Chỉ cần giảm cân (ở người quá cân), hoạt động thể lực thường xuyên, giảm lượng rượu uống vào, ăn nhiều trái cây tươi – rau quả, giảm hàm lượng chất béo bão hòa, giảm thức ăn chứa natri và tăng cường thức ăn chứa kali, đồng thời bổ sung canxi – magiê, giảm tiêu thụ cafein, bạn đã có thể tự cứu mình khỏi “kẻ giết người thầm lặng”.
Áp dụng cho ai?
Anh Huỳnh Tấn Th., sinh năm 1978, năm 2008 kiểm tra sức khỏe thấy huyết áp cao, theo dõi huyết áp nhiều lần ở mức 160-170/90 mmHg, gia đình có cha bị tăng huyết áp sớm, bản thân thích ăn mặn, ít ăn rau trái cây, ít vận động, hút thuốc lá hơn 10 điếu/ngày. Huyết áp anh Th. trở về bình thường 120/70 mmHg sau hai tuần sử dụng thuốc. Anh Th. được tư vấn chế độ ăn nhiều rau quả, giảm ăn mặn (nêm nếm bình thường, khi ăn không chấm hay thêm nước mắm, muối, nước tương), vận động tăng dần 15 phút lên 30 phút mỗi ngày, ngưng hút thuốc lá. Sau đó, anh Th. ngưng uống thuốc, tiếp tục chế độ ăn, vận động đúng mực. Qua theo dõi đến nay, huyết áp của anh luôn ổn định 120/70 mmHg.
Việc điều trị tăng huyết áp không dùng thuốc được khuyến khích ở bệnh nhân tăng huyết áp độ 1, không có biến chứng bệnh tim mạch và tổn thương cơ quan đích, đáp ứng với thay đổi lối sống xảy ra sau 4-6 tháng đầu. Còn với những bệnh nhân tăng huyết áp nặng nên bắt đầu biện pháp thay đổi lối sống cùng với việc dùng thuốc.

Sống lành mạnh
Hiệu quả chống tăng huyết áp mang lại từ việc điều chỉnh lối sống tùy theo sự tuân thủ của bệnh nhân với liệu pháp. Nếu người bệnh tuân thủ tối ưu, huyết áp tâm thu giảm trên 10mmHg. Biện pháp điều chỉnh lối sống được đề nghị cho các bệnh nhân tăng huyết áp vì trên các nghiên cứu quy mô lớn cho thấy ngay huyết áp giảm ít cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Hơn nữa, không giống liệu pháp dùng thuốc có thể gây tác dụng ngoài ý muốn, liệu pháp không dùng thuốc không gây các ảnh hưởng có hại mà còn cải thiện cảm giác sung mãn cho bệnh nhân và ít tốn kém. Người bệnh chỉ cần điều chỉnh lối sống theo những hướng có lợi như sau:
- Giảm cân nặng bằng chế độ ăn ít năng lượng giúp cải thiện tình trạng kháng insulin, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và phì đại thất trái. Ở người thừa cân hoặc béo phì, giảm 10kg cân nặng sẽ làm giảm 5-10mmHg mức huyết áp tâm thu.
- Tuân thủ chế độ ăn nhiều trái cây, rau, các thực phẩm ít chất béo, giảm ăn các loại mỡ bão hòa và mỡ toàn phần làm giảm huyết áp tâm thu từ 8-14mmHg.
- Chế độ ăn giảm muối, giàu kali và canxi: không quá 6g muối ăn một ngày có thể sẽ làm giảm huyết áp tâm thu từ 2-8mmHg.
- Tăng cường hoạt động thể lực: có thể làm giảm 4-9mmHg huyết áp tâm thu. Vận động cơ thể đều đặn như đi bộ nhanh, chạy chậm ít nhất 30 phút mỗi ngày hoặc chơi các môn thể thao.
- Hạn chế uống rượu: uống rượu với mức độ vừa phải có thể làm giảm huyết áp từ 2-4mmHg. Mỗi ngày không uống quá hai ly nhỏ, tương đương 30ml ethanol (tức khoảng 720ml bia hay 300ml rượu hoặc 90ml whisky).
- Không hút thuốc lá.
Ngoài ra, các biện pháp làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch có thể kể đến như:
- Ngừng hút thuốc
- Giảm chất béo toàn phần và loại bão hòa
- Thay chất béo bão hòa bằng chất béo đơn – không bão hòa.
- Tăng ăn cá có dầu.
Tăng huyết áp là gì?
Huyết áp tốt cho sức khỏe là chỉ số trên (tâm thu) dưới 135mmHg và chỉ số dưới (tâm trương) dưới 85mmHg. Tăng huyết áp thông thường được hiểu là huyết áp tăng lên (huyết áp lớn hơn hoặc bằng 140/90mmHg). Nhiều người có huyết áp cao trong nhiều năm mà không biết do không có triệu chứng, nhưng khi tăng huyết áp không được điều trị sẽ gây tổn thương động mạch và các cơ quan quan trọng trong cơ thể. Đó là lý do tại sao huyết áp cao thường được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.
Với dân số hiện nay của VN hơn 88 triệu dân, ước tính 11 triệu người bị tăng huyết áp.
BS LÝ HUY KHANH (Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương)
(Tuổi trẻ)

Posted By Nguyen Minh Quang11:54 PM

5 cách để phòng ngừa bệnh tim

Filled under:

Bệnh tim được cho là liên quan mạnh mẽ với lối sống. Do đó, cách hiệu quả để phòng bệnh tim là xây dựng những thói quen sau:
Tìm hiểu tiền sử bệnh tật của gia đình
Tiểu đường, bệnh tim, đột quỵ, lượng cholesterol cao và huyết áp cao đều có thể di truyền trong các gia đình và làm tăng nguy cơ đau tim của bạn. (Trên thực tế, việc cha hoặc mẹ bị bệnh tim có thể làm tăng khoảng 25-50% nguy cơ của bạn). Nếu bạn sớm biết về những nguy cơ thì có thể sớm xử lý chúng.

Ăn uống đúng cách
Loại bỏ chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa khỏi chế độ ăn uống của bạn và thay bằng các loại rau củ, trái cây giàu chất chống oxy hóa.
Một nghiên cứu của ĐH Harvard vào năm 2009 cho thấy phụ nữ có chế độ ăn uống gần giống với chế độ ăn uống Địa Trung Hải nhất (nhiều rau, đậu, các loại hạt, chất béo không bão hòa đơn và ít thịt) giảm 29% nguy cơ mắc bệnh tim so với những người có chế độ ăn uống khác như vậy nhất.
Nắm được các chỉ số cơ thể
Nếu bạn không biết về các yếu tố nguy cơ, hãy giữ chỉ số BMI (chỉ số khối cơ thể) của bạn dưới 25, LDL cholesterol (cholesterol xấu) ở mức 130 hoặc thấp hơn, HDL (cholesterol tốt) ở mức 50 hoặc cao hơn, tổng số cholesterol ở mức 200 hoặc thấp hơn, triglyceride (chất béo trung tính) ở mức 150 hoặc thấp hơn và vòng eo của bạn nhỏ hơn khoảng 90 cm.
Quan tâm tới vòng eo của bạn là một việc thực sự quan trọng. Nghiên cứu cho thấy rằng việc có một kích thước vòng eo lớn, ngay cả khi không bị béo phì, có thể là một dấu hiệu của bệnh tim ở phụ nữ.

Tập thể dục
Tập thể dục với cường độ trung bình ít nhất 30 phút/ngày và rèn luyện cơ bắp 2 lần/tuần để giảm tỷ lệ mỡ trong cơ thể.
Chỉ riêng tập thể dục có thể làm giảm khoảng 35-50% nguy cơ đau tim.
Bỏ thuốc lá
Bạn vẫn nằm trong nhóm có nguy cơ cao lên đến 5 năm sau khi bỏ thuốc. Tuy nhiên, nguy cơ sẽ giảm dần.
(Dân trí)

Posted By Nguyen Minh Quang11:53 PM

Nguyên nhân chính khiến bạn đánh trống ngực

Filled under:

Nguyên nhân chính khiến bạn đánh trống ngực

Rối loạn các chất điện giải, hẹp động mạch vành, dùng thuốc không đúng và uống chất chất kích thích là những nguyên nhân chính khiến hồi hộp tim (đánh trống ngực).
Tim cần một môi trường chung quanh bình thường và ổn định để hoạt động tốt. Các thay đổi trong dẫn truyền điện có thể dẫn đến giảm khả năng bơm máu của tim và tình trạng đánh trống ngực xuất hiện.

Rối loạn các chất điện giải trong cơ thể như kali, magnesium và calcium có thể khiến hồi hộp tim. Ngoài ra, thiếu máu và cường giáp cũng là những nguyên nhân khiến tình trạng này xuất hiện.
Nhiều loại hóa chất khi được đưa vào cơ thể có thể gây hồi hộp do cơ chế tác dụng tương tự adrenalin trên tim và khiến tim bị kích thích. Các chất kích thích thường gặp là cà phê, thuốc lá, rượu bia.
Các loại thuốc bán không cần toa như pseudoephedrine có trong thuốc cảm hoặc chất trong thảo dược như ma hoàng cũng là nguyên nhân. Thuốc cấm như cocaine, amphetamine, PCP (phencyclidine), cần sa; thuốc trị hen suyễn như albuterol hít, theophylline hoặc các thuốc thay thế nội tiết tố tuyến giáp được xem là thủ phạm.
Những người bị chứng stress cũng dễ bị tình trạng này bởi stress gây tăng mức độ adrenalin trong cơ thể. Tập luyện thể lực, bệnh tật (nhất là sốt), hoặc các nguyên nhân gây tăng cảm xúc như vui quá, buồn quá, bất ngờ nghe tin xấu cũng khiến tim đập bất thường.
Một số tình trạng hồi hộp có thể do các bất thường về cấu trúc của tim. Hẹp động mạch vành gây thiếu máu cơ tim, tăng tính kích thích gây ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, hoặc rung thất. Các bất thường về dẫn truyền gây cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất hoặc hội chứng Wolfe-Parkinson-White. Các bất thường van tim cũng gây rối loạn nhịp tim. Có đến 40% bệnh nhân sa van 2 lá than phiền về hồi hộp tim.
Phụ nữ có thai thường than hồi hộp tim mặc dù trong đa số các trường hợp thường không phát hiện các rối loạn nhịp nào đáng kể. Với phụ nữ đã sẵn có những bất thường về nhịp tim thì việc có thai sẽ khiến tình trạng hồi hộp nặng hơn do các biến đổi về nội tiết và lưu lượng máu (tim phải thích nghi với việc tăng cường bơm máu đến tử cung giúp thai nhi phát triển).
Cuối cùng, thay đổi về nội tiết tố ở phụ nữ trước, trong và sau giai đoạn mãn kinh cũng góp phần tăng tần suất các cơn hồi hộp.
Để biết chính xác nguyên nhân và có hướng điều trị phù hợp, cách tốt nhất là người bệnh nên đến gặp bác sĩ. Việc chủ quan không thăm khám sẽ có hại vì bệnh có thể nặng thêm.
(Theo BS Đồng Ngọc Khanh – VnExpres)

Posted By Nguyen Minh Quang11:52 PM

Quan niệm sai lầm về chứng đột quỵ

Filled under:

Đột quỵ hiếm khi xảy ra và chỉ là vấn đề của người cao tuổi. Nhiều người vẫn tin vào những quan niệm này, dù thực tế hoàn toàn ngược lại.
Đột quỵ chỉ xảy ra ở người cao tuổi
Quan niệm này hoàn toàn sai lầm. Mặc dù phần lớn những người ở độ tuổi trên 65 thường mắc chứng đột quỵ nhưng theo một nghiên cứu mới đây, 1/3 số người mắc chứng đột quỵ ở độ tuổi dưới 65. Tỷ lệ đột quỵ ở giới trẻ ngày càng tăng cao, nguyên nhân chủ yếu là do bệnh béo phì hay do bệnh tim bẩm sinh.

Chỉ có một loại đột quỵ
Phán đoán này là sai. Trên thực tế, có 2 loại đột quỵ chính: chứng thiếu máu cục bộ và đột quỵ xuất huyết. Thiếu máu cục bộ xảy ra khi mạch máu cung cấp máu cho não bị tắc nghẽn còn đột quỵ xuất huyết (hay bệnh chảy máu não) xảy ra khi mạch máu bị vỡ đột ngột. Những yếu tố gây nên chứng đột quỵ khác nhau nên cần áp dụng phương pháp điều trị khác nhau.
Bạn không thể làm gì để ngăn ngừa chứng đột quỵ
Điêu này là không đúng. Trên thực tế, khoảng 80% chứng đột quỵ có thể được ngăn ngừa bằng cách loại bỏ các yếu tố chính gây nên chứng đột quỵ như thừa cân, huyết áp cao hay lượng cholesterol cao. Bradley White, Phó Giáo sư Khoa Nghiên cứu thần kinh và Trị liệu thử nghiệm tại Trung tâm khoa học sức khỏe A&M thuộc Đại học Y Texas cho biết: “Tất cả 3 yếu tố này đều có thể ngăn ngừa được”. Ông cũng khuyến cáo rằng, nên tập thể dục thường xuyên, uống ít rượu bia và kiểm soát bệnh tiểu đường để ngăn chặn chứng đột quỵ.
Các triệu chứng đột quỵ luôn dễ dàng nhận biết
Điều này là không đúng. Tiến sĩ White cho biết: “Chóng mặt cũng là triệu chứng của đột quỵ”. Tuy nhiên, thông thường bạn bị chóng mặt là do đứng lên quá nhanh hay do một nguyên nhân nào đó vô hại. Nhìn chung, những triệu chứng dễ gặp nhất là: tê nửa mặt, yếu nửa người, hay nhầm lẫn, nói khó khăn. Ngoài ra, phụ nữ bị nấc thành tiếng cũng là dấu hiệu mắc chứng đột quỵ.
Các triệu chứng sẽ tự biến mất
Quan niệm này là không đúng. Khi xảy ra các triệu chứng đột quỵ, bạn chờ đợi chúng biến mất hoặc đi ngủ là sai lầm rất lớn. Theo Tiến sĩ Bradley White, tốt hơn hết là bạn nên đến gặp bác sĩ còn hơn là ngồi chờ đợi và phớt lờ những triệu chứng đột quỵ thoáng qua như mắt đột ngột mờ đi, chóng mặt, tê một nửa cơ thể.
Nếu không phục hồi nhanh chóng thì sẽ chịu khuyết tật vĩnh viễn
Điều này là không đúng. Đã có một thời gian dài, người ta tin rằng những người mắc chứng đột quỵ sẽ ngừng hồi phục trong vòng 6 tháng. Tiến sĩ White cho biết: “Nếu bạn không ngừng chữa trị thì bạn sẽ không ngừng hồi phục”. Thực tế là nhiều bệnh nhân được chẩn đoán là sẽ không qua khỏi nhưng họ vẫn có tín hiệu hồi phục cả trong lời nói lẫn vận động cơ thể.
Sẽ muộn nếu không đến bệnh viện trong vòng 3 tiếng sau khi xảy ra đột quỵ
Phán đoán này là hoàn toàn sai lầm. 10 năm trước, các chuyên gia cho rằng thuốc tPA, một loại thuốc chống đông máu chỉ có tác dụng đối với những người thiếu máu cục bộ trong vòng 3 giờ. Tuy nhiên, hiện nay con số này đã tăng lên 8 giờ tùy thuộc vào cách sử dụng thuốc. Tiến sĩ White nhấn mạnh, thuốc tPA không có tác dụng với chứng đột quỵ xuất huyết, nó có thể khiến bệnh trầm trọng thêm.
(Health/An ninh thủ đô)

Posted By Nguyen Minh Quang11:51 PM

Đông máu tĩnh mạch có thể tử vong trong 3 giây

Filled under:

Không phải ống dẫn máu bình thường. Tĩnh mạch là những khí quan tinh xảo tạo thành hệ tuần hoàn máu phức tạp và hoạt động hoàn hảo.
Tuy nhiên thỉnh thoảng không cần nhiều sự cố, để chức năng của nó bị đảo lộn và khi ấy tĩnh mạch bắt đầu sinh bệnh. Và không hiếm trường hợp tình trạng suy tĩnh mạch đe dọa tính mạng con người.


Cục máu đông tĩnh mạch, mối đe dọa sự sống
“Cần nhìn nhận một cách nghiêm túc bệnh tĩnh mạch. Tĩnh mạch chân nổi cộm không phải là vấn đề mang tính thẩm mỹ chỉ cần “xóa nhòa” bằng mỹ phẩm hoặc mang tất vỡ dầy hơn bình thường” – bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng, giám đốc Bệnh viện Phẫu thuật Học viện Y khoa Warszawa (Ba Lan), GS. BS Wojciech Noszczyk nhấn mạnh trong cuốn sách “Viêm tĩnh mạch chân và những bệnh tĩnh mạch khác”. Ấn phẩm xuất bản không chỉ dành cho nạn nhân các bệnh tĩnh mạch chân, mà cả những người mong muốn né tránh mọi rắc rối liên quan đến hệ tuần hoàn máu.
Tuy nhiên nói về các bệnh tĩnh mạch, GS. BS Noszczyk bắt đầu từ hiện tượng máu vón cục tĩnh mạch sâu, tức bệnh máu vón cục-tắc nghẽn mạch. Tại sao? “Bởi đó là bệnh ít biết hơn, song hiểm độc hơn nhiều so với bệnh suy tĩnh mạch chân mạn tính. Nguy hiểm hơn bệnh viêm tĩnh mạch chân và chủ yếu không bộc lộ triệu chứng. (…). Không hiếm trường hợp cục máu đông tách ra khỏi dòng chảy tĩnh mạch và chạy ngược dòng về tim và phổi, gây tắc tĩnh mạch phổi. Nếu to, có thể dẫn đến tử vong, những cục nhỏ hơn, cỡ đầu đinh ghim, sẽ làm tắc nghẽn những tĩnh mạch nhỏ hơn ở phổi, gây khó thở” – người thầy thuốc giầu kinh nghiệm cảnh báo, riêng giới quan tâm nghĩ ngay đến câu chuyện bi thảm của Kamilia Skolimowska, nữ vận động viên điền kinh (VĐV) nổi tiếng Ba Lan, huy chương vàng Olympic bộ môn ném tạ.
Cái chết xuất hiện bất ngờ
26 tuổi, thân hình khoẻ mạnh, thường xuyên được kiểm tra sức khỏe. Mặc dù vậy trong đợt tập huấn tại Bồ Đào Nha, nữ VĐV bất ngờ cảm thấy khó chịu. – Thứ Tư Kamilia đến phòng tập thể lực tại chỗ chúng tôi. Chị ngồi xuống ghế và người lả dần, bác sĩ vật lý trị liệu Andrzej Krawczyk chạy lại và hô hấp nhân tạo. Chúng tôi gọi xe cấp cứu. Kamilia tự trèo lên xe. Song giây lát sau chị lại ngất xỉu, xe đưa nữ VĐV đến bệnh viện. Tiếc rằng mọi nỗ lực đều vô hiệu. Kamilia qua đời một tiếng sau đó – Szymon Ziolkowski, một đồng nghiệp của nạn nhân, người chứng kiến sự kiện sau đó kể.
Dư luận sôi lên trong các phương tiện truyền thông. Gia đình, bạn bè, người hâm mộ: tất cả đòi hỏi lời giải thích. Bởi ai cũng biết, thực tế các vận động viên thể thao thường xuyên được theo dõi sức khỏe. – Suốt hơn chục năm nữ nạn nhân không có bất cứ dấu hiệu nào khác thường – Jacek Wszola, bạn thân của gia đình bình luận về cái chết của nữ VĐV.
Khi ấy người ta còn nghi ngờ, nguyên nhân tử vong là nhồi máu cơ tim. Mãi về sau kết quả khám nghiệm tử thi mới chứng tỏ, thủ phạm là tình trạng tắc nghẽn động mạch phổi, và những chứng cứ tiếp theo được bộc lộ. Đồng nghiệp trong đợt tập huấn thừa nhận, trước đó Kamilia đã cảm thấy khó chịu, hô hấp khó khăn, thường kêu đau đùi và vài tháng trước từng có lần ngất xỉu. Ngay khi ấy các bác sĩ đã phát hiện trong phổi chị có cục máu, nhưng kết quả xét nghiệm sau đó khẳng định, dị vật đã biến mất. Để gạt bỏ mọi suy diễn không cần thiết, bố nữ VĐV, ông Robert Skolimowski (VĐV cử tạ nổi tiếng) đã chính thức công bố kết luận khám nghiệm tử thi: “Tình trạng tắc nghẽn động mạch phổi là nguyên nhân tử vong của Kamilia. Sau cuộc nói chuyện và tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên về lĩnh vực này, chúng tôi biết rằng, điều kiện di truyền, tình trạng cơ thể mất nước, hiện tượng máu vón cục, sử dụng thuốc tránh thai hoặc nỗ lực vận động quá sức đều có thể dẫn đến kết cục đáng tiếc” – ông Robert Skolimowski giải thích trước công luận.
Nhận mặt kẻ thù
Bệnh xảo quyệt, nguy hiểm, thêm nữa xuất hiện nhiều hơn so với những gì vẫn tưởng. GS Noszczyk đã viết  về hiện tượng cục máu đông trong tĩnh mạch sâu: “Các số liệu thống kê y học báo động. Theo đó, tại các nước phương Tây, trung bình cứ một ngàn dân có 1 đến 4 trường hợp bị bệnh/năm. Tiếc rằng, cục máu đông là bệnh của tương lai và nguy cơ xuất hiện gia tăng cùng các bệnh của nền văn minh”. Phòng ngừa bằng cách nào?
Thông thường tất cả bắt đầu  từ tình trạng tổn thương thành tĩnh mạch. Tự nhiên, thành tĩnh mạch được “dán” một lớp màng mỏng, phẳng và dễ trầy xước – thực tế thuận lợi để hồng cầu dễ bám và hình thành cục vón. Thành tĩnh mạch mỏng manh rất dễ vỡ – trường hợp không may chúng ta bị va đập, chấn thương hoặc xuất hiện tổn thương ở vùng mô bao quanh tĩnh mạch. Khi ấy những bụi máu và hồng cầu sẽ lấp đầy vết thương. Nếu tổn thương được bổ sung tình trạng suy giảm vận động (thí dụ đối tượng bắt buộc phải nằm dưỡng thương) hoặc cơ thể mất nước, hiện tượng kéo theo dòng chảy của máu chậm lại và máu đặc, hồng cầu tiếp tục tồn đọng và hậu quả máu vón cục. Cùng với thời gian – giống nút chai – cục máu đóng kín dòng chảy tĩnh mạch và lớn dần nhằm vào hướng trái tim. GS Noszczyk cảnh báo: “Hiện tượng xảy ra nhiều nhất ở những tĩnh mạch sâu dưới đùi. Cục máu phát triển đến tận tĩnh mạch dưới đầu gối và đùi, cùng lúc lấp đầy tất cả van một chiều bên trong tĩnh mạch. Thông thường khởi đầu của đoạn máu đông cắm chặt vào thành tĩnh mạch, đoạn cuối – lơ lửng bên trong. Và chính bộ phận cuối cục máu đông có thể gẫy ra bất cứ lúc nào và trôi đến tim hoặc phổi cùng với dòng máu chảy. Nguy cơ tử vong có thể xảy ra trong vài ba giây – nếu vật cản to. Những cục máu nhỏ gây tắc nghẽn những tính mạch nhỏ của phổi sẽ gây khó thở”.
Dấu vết để lại
Xảy ra chuyện gì, khi cục máu đông tách ra? Tâm thất phải của tim bị áp suất quá tải, trong khi máu trở về tâm thất trái từ phổi quá ít, để duy trì áp suất động mạch và cung cấp máu cho các cơ quan có nhu cầu. Khi ấy sẽ xảy ra hiện tượng choáng, bất tỉnh và tử vong. Cũng may không phải tất cả sự cố đều kết thúc bi thảm như vậy. Phần nhiều cục máu bị cuốn trôi, động mạch tự “hàn gắn” các vết thương hoặc máu lưu thông bằng những con đường phụ, bỏ qua “đoạn đường bị tắc nghẽn”. Tuy nhiên bệnh để lại dấu vết ở dạng viêm tính mạch chân thứ phát hoặc sự biến dạng bên trong thành tĩnh mạch. Cặp giò đang tròn lẳn phẳng phiu bỗng chốc nổi cộm “những con giun” cực phản cảm. Và sau vài ba tháng hoặc vài ba năm sẽ lần lượt xuất hiên “những con giun” mới.
Nguy cơ gia tăng cùng tuổi tác
Không dễ chẩn đoán bệnh máu vón cục-tắc nghẽn, vì thế việc nhận biết nhân tố gia tăng nguy cơ đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Ngoài nhân tố hình thành cục máu đông như đã nói, tuổi tác và lối sống ít vận động cũng là nhân tố quyết định. Tuổi bốn mươi là giới hạn an toàn. Sau đó nguy cơ tăng dần sau mỗi thập kỷ, bởi khi ấy tự nhiên nhiều người trong chúng ta thường bị mắc các bệnh tim-mạch nhiều hơn và sinh hoạt càng ít vận động. Trong cả hai truờng hợp máu đều tuần hoàn chậm hơn, và tình trạng trì trệ ở chân đặc biệt nguy hiểm.
Chúng ta cảm thấy gì sau nhiều giờ ngồi xe hơi, đi máy bay hoặc đứng bất động hàng giờ? Hai chân nặng hơn chì, đau nhức “bánh chè” và đi lại khó khăn. Tất cả vì lý do giản đơn: ở tư thế ngồi hoặc đứng, máu dưới chân chảy chậm hơn, bơm cơ bắp hoạt động kém, hệ thống van một chiều trong tĩnh mạch đóng kín. Để những van này mở và máu từ hai chân chảy ngược theo hướng lên tim – cần thiết hoạt động cơ bắp. Vì thế tình trạng bất động kéo dài là nhân tố nguy cơ tiếp theo. Nguy cơ này gia tăng ở những người sau phẫu thuật, bị gãy hoặc chấn thương chân nghiêm trọng và thậm chí cả ở những đối tượng duy trì nếp sống lười vận động. Cũng vì thế, để bệnh nhân hồi phục nhanh sau chữa trị, các bác sĩ bao giờ cũng chỉ định tăng cường vận động.
Trong danh mục các nhân tố nguy cơ xuất hiện cục máu đông, GS Noszcyk còn xếp cả việc phụ nữ áp dụng các giải pháp ngừa thai hormone, tình trạng rối loạn hormone, phụ nữ có thai, béo phì, hút thuốc lá, các bệnh ung thư và một số bệnh liên quan đến máu.
Chữa trị
Có thể chữa trị cục máu đông tính mạch sâu bằng nhiều cách. Sử dụng biệt dược chống đông máu là cách đơn giản nhất. Khi đã khẳng định chắc chắn bệnh lý qua những xét nghiệm đặc thù, bác sĩ thường chỉ định tiêm thuốc thuộc nhóm heparine (làm loãng máu, ngăn ngừa nguy cơ hình thành máu vón cục). Phần lớn tiêm dưới da, ở khu vực quanh rốn, người bệnh nằm ngả lưng trong tư thế dựng chân lên cao. Đồng thời việc điều trị bằng thuốc uống cũng tiến hành song song, nhằm ngăn ngừa khả năng đông máu phổi và xuất hiện cục máu mới.
Vì lý do nguy cơ biến chứng phức tạp và xuất huyết cao, việc sử dụng biệt dược làm tan cục máu đông rất hiếm trường hợp được chỉ định.
Hãy “tốt bụng” với tĩnh mạch!
“Tất nhiên, với các bệnh tĩnh mạch, việc phòng ngừa có ý nghĩa đặc biệt. Rất khó hy vọng y học tìm ra phương thức sửa chữa có hiệu quả van tĩnh mạch đã bị hư tổn trong tương lai gần. Tuy nhiên có thể và cần phải tự tạo những thói quen thân thiện đối với tĩnh mạch; những thói quen khả dĩ ngăn ngừa tình trạng máu vón cục và kìm hãm xu thướng suy tĩnh mạch. (…). Bản thân việc quan sát cơ thể là quá ít. Cần phải hành động” – GS Noszczyk nhấn mạnh và gợi ý một số giải pháp.
1-   Thứ nhất: Lựa chọn bộ môn thể thao thích hợp (những môn như cử tạ, đẩy tạ, cưỡi ngựa…không tốt đối với tĩnh mạch; các môn bơi lội, dạo bộ, khiêu vũ, đi xe đạp rất tốt);
2-   Thứ hai: Giảm thiểu sức ép đè nặng đôi chân
3-   Thứ ba: Thực đơn thích hợp (hạn chế thịt, chất béo, đường…nhiều rau xanh, hoa quả, cá…nhằm tránh béo phì).
Nguyên tắc liệu pháp cơ bản có nội dung: “Hai chân cần liên tục hoạt động”. Vậy nên cố gắng vận động các ngón chân, thậm chí cả khi ngồi trên ghế hay dạo bộ tại chỗ, cũng đứng trên những ngón chân và tự xoay cơ thể.
- Buổi tối ngồi xem tivi nên gác chân lên ghế đẩu hoặc mặt bàn, tốt nhất ở mặt bằng cao hơn trái tim.
- Sáng dậy thực hiện vài động tác đứng lên – ngồi xuống, đá chân tứ phía hoặc đi xe đạp.
- Tránh tắm nước quá nóng (làm thui chột tuần hoàn máu); thay đổi vài lần dòng nước nóng-lạnh, trường hợp tắm vòi hoa sen.
- Lưu ý chọn giầy vừa chân, tạo cảm giác thoải mái (đế giầy cao 2 cm) và quần áo rộng.
- Hàng ngày uống đủ nước (từ 1,5 đến 2lít/ngày), tốt nhất nước đun sôi để nguội, nước chè hoặc nước ép trái cây.
(Theo Tri thức trẻ)

Posted By Nguyen Minh Quang11:50 PM

Hiến máu có lợi với cả người cho và người nhận

Filled under:

Một nghiên cứu mới đây cho thấy việc hiến máu không chỉ có lợi cho người được tiếp nhận máu mà cho cả những người hiến máu.


Theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người tuổi từ 43-61 bị cơn đau tim và đột quỵ ít hơn khi họ hiến máu 6 tháng 1 lần. Một nghiên cứu khác được tiến hành ở 2.682 người đàn ông Phần Lan thấy rằng 88% những người tham gia hiến máu giảm nguy cơ đau tim so với những người không tham gia hiến máu. Tương tự, nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Viện Ung thư quốc gia Mỹ phát hiện ra mối liên quan giữa sắt và nguy cơ ung thư. Nghiên cứu chỉ ra rằng, những người tham gia hiến máu 2 lần/năm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư và bị tử vong so với những người không hiến máu. Tuy nhiên lợi ích này có được khi hiến máu một cách thường xuyên.
Hiến máu làm giảm nguy cơ đau tim và ung thư bởi những lợi ích phát sinh từ việc giảm lượng sắt cao. Sắt ảnh hưởng đến độ đặc và dính kết của máu. Nồng độ sắt tăng cao làm cho máu đặc hơn và đẩy nhanh quá trình oxy hóa   cholesterol. Điều này tăng ma sát của sắt khi di chuyển qua các mạch máu, làm hao mòn niêm mạc của động mạch, góp phần gây bệnh tim mạch. Khi hiến máu, nồng độ của sắt trong máu sẽ giảm đi, do đó giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.
Một tác dụng phụ của hiến máu là nó có thể đốt cháy một  lượng lớn calo. Sau khi hiến máu, cơ thể thay thế các tế bào máu trong vòng 48 giờ, và tất cả các tế bào hồng cầu trong vòng 4-8 tuần. Các nhà nghiên cứu trường Đại học California ở San Diego ước tính, mỗi lần hiến 470ml máu sẽ đốt cháy 650 calo trong cơ thể, do đó hiếm máu rất hiệu quả trong việc giảm cân.
(An ninh thủ đô)

Posted By Nguyen Minh Quang11:49 PM

Sức khỏe của gan, phổi và tim biểu hiện qua móng tay

Filled under:

Bạn có biết rằng móng tay có thể bộc lộ sức khỏe của bạn? Một chấm trắng ở chỗ này, một vết hồng hồng ở chỗ kia, hay một vài vết sần có thể là dấu hiệu một bệnh trong cơ thể.
Những vấn đề ở gan, phổi, và tim có thể biểu hiện qua móng tay. Hãy tìm hiểu xem móng tay của bạn bộc lộ những bí ẩn gì.

Móng tay nhợt nhạt đôi khi là dấu hiệu của bệnh nặng như:
- Thiếu máu
- Suy tim sung huyết
- Bệnh gan
- Suy dinh dưỡng
Móng tay trắng
Nếu móng tay hầu hết có màu trắng với viền sẫm màu hơn, đây có thể là dấu hiệu của các bệnh về gan, như viêm gan. Các ngón tay bị vàng cũng một dấu hiệu khác của bệnh gan.
Móng tay vàng
Một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây vàng móng là nhiễm nấm. Khi tình trạng viêm nhiễm nặng hơn, phần thịt nằm sát bên dưới móng tay bị co lại, móng tay dày lên và dễ gẫy. Trong một số trường hợp, móng tay vàng có thể là dấu hiệu một bệnh nghiêm trọng hơn như bệnh tuyến giáp, bệnh phổi, tiểu đường hay vảy nến.
Móng tay hơi xanh
Móng tay có màu hơi xanh có nghĩa là cơ thể không đủ oxy. Đây có thể là dấu hiệu của một nhiễm trùng ở phổi, như viêm phổi. Móng tay xanh cũng có thể liên quan đến một vài vấn đề về tim.
Móng tay gợn sóng
Nếu bề mặt móng bị gợn sóng hoặc bị rỗ, đây có thể là dấu hiệu sớm của bệnh vảy nến hoặc bệnh viêm khớp. Móng thường bị biến màu và vùng da dưới móng có thể trông có màu nâu đỏ.
Móng nứt hoặc tách
Móng khô, giòn thường bị nứt tách liên quan đến bệnh tuyến giáp. Móng nứt tách kết hợp với màu hơi vàng vàng thì nhiều khả năng là do nhiễm nấm.
Viêm mé móng
Nếu vùng da quanh móng bị đỏ và sưng nề, còn gọi là viêm mé móng, thì có thể là hậu quả của bệnh lupus hoặc các bệnh mô liên kết khác. Nhiễm trùng cũng có thể gây sưng đỏ và viêm mé móng.
Vệt đen ở dưới móng
Vệt đen ở dưới móng cần được khám càng sớm càng tốt. Chúng đôi khi do u hắc tố, một dạng ung thư da nguy hiểm nhất, gây nên.
Móng tay bị gặm
Cắn móng tay có thể chỉ là một thói quen, nhưng trong một số trường hợp đó là dâu hiệu của lo âu dai dẳng. Cắn hay cạy móng tay còn liên quan đến bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD). Nếu bạn không thể ngừng cắn móng tay, hãy đến gặp bác sỹ.
Mặc dù những thay đổi ở móng tay đi kèm với rất nhiều bệnh, song những thay đổi này hiếm khi là dấu hiệu đầu tiên. Và nhiều bất thường ở móng tay cũng có thể là vô hại, không phải ai có móng tay màu trắng đều bị viêm gan. Nếu bạn lo lắng về những biểu hiện ở móng tay thì hãy đến gặp bác sỹ.
(An ninh thủ đô)

Posted By Nguyen Minh Quang11:43 PM

Chăm sóc sức khỏe tim mạch

Filled under:

Những thói quen không tốt, chế độ ăn uống không phù hợp, không tập thể dục và căng thẳng thường xuyên là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim ở bất kỳ độ tuổi nào.
Đó là lý do tại sao cần phải chăm sóc sức khỏe tim. Sau đây là một số cách hữu ích.
Hạn chế thực phẩm nhiều chất béo. Những loại thực phẩm chiên rất ngon miệng nhưng có thể không tốt cho tim. Để cải thiện sức khỏe tim, bạn cần phải hạn chế hết mức những loại thực phẩm nhiều dầu mỡ trong chế độ ăn hằng ngày. Hãy bổ sung những a xít béo lành mạnh như omega 3, vốn có nhiều trong một số loại cá.
Kiểm soát cholesterol. Cholesterol xấu (LDL) thật sự không thân thiện với tim, vì thế điều quan trọng là phải kiểm soát mức cholesterol một cách chặt chẽ. LDL là một trong những nguyên nhân gây đông máu và đau tim.

Giảm cân. Chớ nên lơ là việc kiểm soát cân nặng của bạn. Tình trạng thừa cân làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim. Vì vậy, hãy cố gắng làm cho mình thon thả hơn để khỏe mạnh và năng động hơn trong cuộc sống.
Tập thể dục. Đây là một cách đơn giản nhưng rất quan trọng để cải thiện tim cũng như sức khỏe toàn diện. Tập thể dục thường xuyên trong ít nhất 30 phút mỗi ngày có tác dụng thúc đẩy sự lưu thông máu và tránh được các bệnh tim mạch.
Ngừng hút thuốc. Thói quen không tốt này có thể gây tổn hại cho cả phổi lẫn tim. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và ung thư.
Tập yoga. Sự căng thẳng và trầm uất là 2 nguyên nhân chính gây bệnh tim. Yoga làm thư giãn cơ thể, trí óc và tâm hồn. Hãy tập yoga nếu bạn muốn có một trái tim khỏe mạnh.
Giảm muối. Điều này giúp kiểm soát huyết áp cũng như bảo vệ tim khỏi nguy cơ bệnh tật. Khi chế biến thực phẩm, bạn hãy nêm muối dưới mức “vừa miệng” một chút, nghĩa là làm nhạt đi dần dần, để góp phần duy trì sức khỏe.
Chú ý triglyceride. Đây là một loại lipid tương tự cholesterol hiện diện trong máu. Mức triglyceride cao có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Các chất béo bão hòa và trans fat chứa rất nhiều triglyceride, nên bạn cần hạn chế những thực phẩm có các chất này.
Quan tâm đến tuyến giáp. Bệnh suy chức năng tuyến giáp có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Nó làm xơ cứng các động mạch chủ và điều này làm tăng rủi ro mắc bệnh tim ở phụ nữ.
(Thanh Niên)

Posted By Nguyen Minh Quang11:42 PM

Chăm sóc sức khỏe tim mạch

Filled under:

Những thói quen không tốt, chế độ ăn uống không phù hợp, không tập thể dục và căng thẳng thường xuyên là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim ở bất kỳ độ tuổi nào.
Đó là lý do tại sao cần phải chăm sóc sức khỏe tim. Sau đây là một số cách hữu ích.
Hạn chế thực phẩm nhiều chất béo. Những loại thực phẩm chiên rất ngon miệng nhưng có thể không tốt cho tim. Để cải thiện sức khỏe tim, bạn cần phải hạn chế hết mức những loại thực phẩm nhiều dầu mỡ trong chế độ ăn hằng ngày. Hãy bổ sung những a xít béo lành mạnh như omega 3, vốn có nhiều trong một số loại cá.
Kiểm soát cholesterol. Cholesterol xấu (LDL) thật sự không thân thiện với tim, vì thế điều quan trọng là phải kiểm soát mức cholesterol một cách chặt chẽ. LDL là một trong những nguyên nhân gây đông máu và đau tim.

Giảm cân. Chớ nên lơ là việc kiểm soát cân nặng của bạn. Tình trạng thừa cân làm tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh tim. Vì vậy, hãy cố gắng làm cho mình thon thả hơn để khỏe mạnh và năng động hơn trong cuộc sống.
Tập thể dục. Đây là một cách đơn giản nhưng rất quan trọng để cải thiện tim cũng như sức khỏe toàn diện. Tập thể dục thường xuyên trong ít nhất 30 phút mỗi ngày có tác dụng thúc đẩy sự lưu thông máu và tránh được các bệnh tim mạch.
Ngừng hút thuốc. Thói quen không tốt này có thể gây tổn hại cho cả phổi lẫn tim. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và ung thư.
Tập yoga. Sự căng thẳng và trầm uất là 2 nguyên nhân chính gây bệnh tim. Yoga làm thư giãn cơ thể, trí óc và tâm hồn. Hãy tập yoga nếu bạn muốn có một trái tim khỏe mạnh.
Giảm muối. Điều này giúp kiểm soát huyết áp cũng như bảo vệ tim khỏi nguy cơ bệnh tật. Khi chế biến thực phẩm, bạn hãy nêm muối dưới mức “vừa miệng” một chút, nghĩa là làm nhạt đi dần dần, để góp phần duy trì sức khỏe.
Chú ý triglyceride. Đây là một loại lipid tương tự cholesterol hiện diện trong máu. Mức triglyceride cao có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Các chất béo bão hòa và trans fat chứa rất nhiều triglyceride, nên bạn cần hạn chế những thực phẩm có các chất này.
Quan tâm đến tuyến giáp. Bệnh suy chức năng tuyến giáp có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Nó làm xơ cứng các động mạch chủ và điều này làm tăng rủi ro mắc bệnh tim ở phụ nữ.
(Thanh Niên)


Posted By Nguyen Minh Quang11:41 PM

Lý do bệnh nhân cao huyết áp dễ tử vong

Filled under:

Mặc cho ngành y tranh thủ báo cáo về tiến bộ nhảy vọt trong kỹ thuật chẩn đoán và phương tiện điều trị, bệnh tim mạch vẫn tiếp tục đứng đầu trên bảng tử vong. Tình trạng đó sở dĩ đang và sẽ tiếp tục tồn tại phần lớn là vì bệnh cao huyết áp hoặc không được phát hiện đúng lúc hoặc tuy đã được chẩn đoán nhưng không được điều trị đúng bài bản.
Bệnh nhân không kiểm soát được huyết áp
Đáng tiếc là không ít bệnh nhân tuy tuân thủ y lệnh nhưng huyết áp vẫn ngoài vòng kiểm soát do thuốc bị giảm tác dụng vì những lý do sau đây:
uong thuoc Lý do bệnh nhân cao huyết áp dễ tử vong
Tự ý giảm liều sẽ khiến huyết áp bệnh nhân dễ bị đột biến
- Bệnh nhân tự ý giảm liều hay thậm chí ngưng vài loại thuốc khi huyết áp ổn định mà không ngờ là huyết áp rất dễ đột biến khi thiếu thuốc.
- Vì phản ứng cũng như thể trạng cá biệt của mỗi bệnh nhân nên thầy thuốc khó giữ nguyên liều lượng thuốc hạ áp trong suốt liệu trình. Việc dùng thuốc hạ áp theo kiểu năm này qua tháng khác cứ thế mà mua thuốc tiếp là sai lầm nghiêm trọng.
- Phác đồ điều trị không thể chỉ đơn phương với thuốc hạ áp mà phải được kết hợp với thuốc lợi tiểu, hạ mỡ máu, chống co thắt, giữ máu loãng, an thần… tùy mỗi trường hợp cá biệt. Bệnh nhân vì thế cần được theo dõi qua một số tiêu chí tối thiểu như ion đồ để bổ sung các chất điện giải dễ thất thoát khi dùng thuốc lợi tiểu, chức năng gan để phát hiện phản ứng phụ, sợi huyết để đánh giá độ nhớt của máu… Điều trị cao huyết áp mà thiếu theo dõi xét nghiệm huyết học, sinh hóa, điện ký… chính là một trong các lý do khiến trở tay không kịp với biến chứng.
- Khéo hơn nữa nếu thầy thuốc biết cách kết hợp với dược thảo để vừa giảm lượng thuốc hóa chất vừa giới hạn phản ứng phụ của thuốc hóa chất. Nhưng dù dưới dạng nào cũng thế, phác đồ điều trị chỉ được xem là hiệu quả khi tác dụng được xác minh qua tiêu chí thực nghiệm khách quan. Đừng trị cao huyết áp theo “phương thuốc gia truyền” hay lời đồn vô căn cứ.
- Áp dụng các phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, dưỡng sinh, thiền định… là điều nên làm, nếu thực hiện đúng bài bản, nhưng chỉ là nhân tố đi kèm trong phác đồ điều trị, nghĩa là không thể thay thế thuốc đặc hiệu.
- Lạm dụng thuốc canxi có thể làm mất tác dụng của một số thuốc hạ áp, nhất là thuốc thuộc nhóm chẹn beta. Bệnh nhân vì thế không nên uống thuốc hạ áp cùng lúc với sữa. Cũng đừng tự ý dùng thuốc canxi liều cao vì sợ loãng xương mà không hội ý với thầy thuốc.
- Nước ép trái cây, đặc biệt là nước ép bưởi, nếu dùng gần giờ uống thuốc cũng là lý do khiến nhiều loại thuốc hạ áp hoặc khởi động tác dụng chậm hơn, hoặc mất tác dụng nhanh hơn khiến huyết áp dễ dao động.
- Không thuốc nào có thể triển khai tác dụng như mong muốn nếu thiếu nước. Người dùng thuốc hạ áp vì thế đừng quên chất phụ gia tối quan trọng của thuốc, đó là uống nước cho đủ trong ngày, thay vì chỉ lo uống thuốc.
Hiểu bệnh và đừng né tránh
Có một điều chắc chắn cao huyết áp nhiêu khê không vì bệnh khó chữa mà lắm khi chỉ vì thầy thuốc chưa huy động được sự cộng tác của người bệnh và thân nhân. Muốn được như vậy, biện pháp cơ bản chính là làm sao để mọi người hiểu rõ hơn về căn bệnh này, hiểu để đừng sợ, biết để đừng tránh né. Vì thế cần “đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng” – đọc những bài về y khoa trên báo, tạp chí… vì tri thức y học nhiều khi quan trọng hơn viên thuốc.
BS LƯƠNG LỄ HOÀNG (Trung tâm Điều trị Ôxy cao áp, TP HCM)

Posted By Nguyen Minh Quang11:40 PM

Thuốc lá làm bệnh tim nặng thêm

Filled under:

Ở những người có các nguy cơ khác như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, béo phì hoặc người có yếu tố gia đình bị bệnh tim mạch thì tác hại của thuốc lá sẽ tăng lên rất nhiều lần.
Mặt khác, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng, nicotine chỉ là một trong 4.000 thành phần có hại tìm thấy được trong thuốc lá. Do vậy, những loại thuốc được quảng cáo có đầu lọc nicotine cũng không làm giảm đáng kể nguy cơ đối với bệnh tim mạch.
Khói thuốc lá gây độc đối với mạch máu và các thành phần của máu, do vậy hút thuốc lá là tác nhân làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Khói thuốc lá ngoài việc gây bệnh tim mạch còn có thể gây ra bệnh về phổi, gan. Tác hại của thuốc lá không chỉ đối với cá nhân người hút mà những người xung quanh cũng bị ảnh hưởng. Đặc biệt, người hít phải khói thuốc còn có nguy cơ bị bệnh cao gấp nhiều lần người hút thuốc.

bệnh về phổi và gan

Khi hút thuốc, ngay lập tức làm gia tăng nồng độ chất cathecholamine trong máu và tăng chất carbon monoxid. Các chất này làm khởi phát những cơn đau ngực, hoặc làm nặng thêm các bệnh tim khác. Mặt khác, khói thuốc vào cơ thể sẽ làm gia tăng nồng độ nicotine trong máu từ đó gây co mạch, tăng huyết áp, tăng nhịp tim làm tim phải làm việc nhiều và có thể gây ra rối loạn nhịp tim. Mức độ ảnh hưởng đến tim mạch của thuốc lá tùy thuộc vào mức độ hút thuốc, tức là hút càng nhiều, càng lâu thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng cao.
Theo một số nghiên cứu về mối liên quan giữa thuốc lá và tim mạch, dù chỉ hút một vài điếu thuốc trong ngày cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh và khi hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên gấp 2-3 lần. Những bệnh thường gặp ở người hút thuốc có nguy cơ mắc cao là xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, đột quỵ, rối loạn nhịp tim, đột tử, nhồi máu cơ tim, phình động mạch chủ. Trong số đó bệnh mạch vành là quan trọng nhất, ước tính chiếm khoảng hơn một nửa trường hợp tử vong vì bệnh tim do hút thuốc lá.
Khi khói thuốc vào cơ thể, chúng sẽ gây ra một số tác động ngay lập tức lên tim và mạch máu, đó là sự kích thích hệ thống thần kinh tự động của tim làm nhịp tim bắt đầu tăng lên, có thể tăng tới 30%. Bên cạnh đó, khói thuốc lá còn gây ra tăng huyết áp cấp tính và các bệnh tim mạch, gây tình trạng tăng huyết áp dao động rất nguy hiểm. Khói thuốc làm tăng nhanh quá trình vữa xơ động mạch, từ đó gây ra các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, tai biến mạch máu não, bệnh động mạch ngoại vi…
Những người hút thuốc lá thường xảy ra cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim hơn những người không hút thuốc; và ở những người hút thuốc thì tuổi bắt đầu bị nhồi máu cơ tim sẽ sớm hơn, nguy cơ tái phát cơn nhồi máu trong một năm gấp 2 lần so với người không hút thuốc.

Posted By Nguyen Minh Quang11:39 PM

Điều chỉnh lối sống để trị tăng huyết áp

Filled under:

Trong các nghiên cứu lâm sàng, với nhiều cách điều chỉnh lối sống đã cho thấy giảm được huyết áp và giảm tỷ lệ mới mắc tăng huyết áp.
Điều chỉnh lối sống
Điều chỉnh lối sống bao gồm giảm cân ở người quá cân, hoạt động thể lực, giảm lượng rượu uống vào, ăn nhiều trái cây tươi và rau quả, giảm hàm lượng chất béo bão hòa, giảm thức ăn chứa natri và tăng cường thức ăn chứa kali.

Các thay đổi lối sống khác bao gồm bổ sung canxi và magiê, giảm tiêu thụ cafein và các phương pháp nhằm làm giảm stress cũng được khuyến khích. Tuy nhiên, hiện không có bằng chứng khuyến khích việc dùng các viên thuốc chứa kali, canxi và magiê để giúp hạ huyết áp.
Hiệu quả chống tăng huyết áp mang lại từ điều chỉnh lối sống thay đổi tùy theo sự tuân thủ của bệnh nhân với liệu pháp. Khi sự tuân thủ tối ưu, huyết áp tâm thu giảm >10mmHg. Biện pháp điều chỉnh lối sống được đề nghị cho tất cả các bệnh nhân tăng huyết áp, vì trên các nghiên cứu quần thể dài hạn, quy mô lớn cho thấy ngay huyết áp giảm ít cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Vì vậy, bất chấp mức huyết áp thế nào, tất cả các cá nhân cần phải lựa chọn điều chỉnh lối sống phù hợp cho mình. Hơn nữa, không giống như liệu pháp dùng thuốc có thể gây tác dụng ngoài ý muốn và giảm chất lượng sống trong một số bệnh nhân, liệu pháp không dùng thuốc không gây các ảnh hưởng có hại mà còn cải thiện cảm giác sung mãn cho bệnh nhân và ít tốn kém.
Giảm cân nặng bằng chế độ ăn ít năng lượng giúp giảm huyết áp, cải thiện tình trạng kháng insulin, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và phì đại thất trái. Uống rượu lượng nhỏ đến mức giới hạn có tác dụng chống bệnh mạch vành. Tập thể dục có tác dụng tốt nhất là ở người có lối sống tĩnh tại. Hình thức thể dục nào cũng được nhưng cách tập tích cực có hiệu quả phòng bệnh hơn. Tác dụng bảo vệ mất khi ngừng tập thể dục. Hiện chưa rõ cơ chế tác dụng của chế độ ăn nhiều trái cây và rau, có lẽ liên quan việc bổ sung kali theo các kết quả nghiên cứu. Những người bỏ thuốc lá sẽ giảm mạnh nguy cơ bệnh tim mạch 50% trong 1 năm nhưng phải ngừng hút thuốc 10 năm thì nguy cơ bệnh tim mạch mới giống như người không hút thuốc. Nên ăn cá và các loại cá có chứa axit béo omega 3 khác điều độ (ít nhất hai bữa cá mỗi tuần).
Thực hiện lối sống lành mạnh
Giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì: cứ giảm 10kg cân nặng sẽ làm giảm 5 – 10mmHg mức huyết áp tâm thu. Tuân thủ chế độ ăn nhiều trái cây, rau, các thực phẩm ít chất béo, giảm ăn các loại mỡ bão hòa và mỡ toàn phần sẽ làm giảm huyết áp tâm thu từ 8 – 14mmHg.
Chế độ ăn giảm muối, giàu kali và canxi: không quá 6g muối ăn một ngày. Có thể sẽ làm giảm huyết áp tâm thu từ 2 – 8mmHg.
Tăng cường hoạt động thể lực: có thể làm giảm 4 – 9mmHg huyết áp tâm thu. Vận động cơ thể đều đặn như đi bộ nhanh, chạy chậm ít nhất 30 phút mỗi ngày hoặc chơi các môn thể thao.

Hạn chế uống rượu: Uống rượu với mức độ vừa phải có thể làm giảm huyết áp từ 2 – 4mmHg. Mỗi ngày không uống quá 2 ly nhỏ, tương đương 30ml ethanol (tức khoảng 720ml bia hay 300ml rượu hay 90ml whisky).
Không hút thuốc lá để loại bỏ toàn bộ nguy cơ do thuốc lá gây ra.
Người không bị tăng huyết áp áp dụng liệu pháp này để phòng ngừa. Ở bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 (HA<160/100mmHg), không có biến chứng bệnh tim mạch và tổn thương cơ quan đích, đáp ứng với thay đổi lối sống xảy ra sau 4 – 6 tháng đầu. Đối với người tăng huyết áp nặng nên bắt đầu liệu pháp thay đổi lối sống cùng với việc dùng thuốc.
(Sài Gòn tiếp thị)

Posted By Nguyen Minh Quang11:39 PM

Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật là do huyết áp cao

Filled under:

ăng huyết áp là nguyên nhân chính hình thành cục máu đông
Tăng huyết áp khiến sức ép trong lòng mạch tăng cao làm cho bề mặt bên trong  mạch máu bị rạn nứt tạo điều kiện cho phân tử mỡ lọt xuống thành mạch máu kéo theo các bạch cầu và một số các thành phần khác, thành mạch máu khi đó bị dày lên tạo thành mảng xơ vữa. Mảng xơ vữa làm mạch máu hẹp lại, cản trở sự lưu thông của máu, các thành phần của máu bị cản trở lưu thông gắn kết vào nhau tạo thành khối liên kết hay còn gọi là cục máu đông.

Cục máu đông – Nguyên nhân  gây tai biến, đột quỵ hoặc tử vong
Mạch máu là con đường cung cấp chất dinh dưỡng, oxi… đến cho các cơ quan, nếu con đường này bị bít tắc, các cơ quan sẽ không tồn tại và hoạt động được.
“Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh tim và đột quỵ – hai căn bệnh này là nguyên nhân số 1 thế giới gây tử vong sớm và tàn tật.
Những  nghiên cứu cũng chỉ ra  “người có huyết áp bình thường vào tuổi 55, có đến 90% sẽ bị tăng huyết áp vào những năm sau đó.
Nguồn: Tổ chức y tế thế giới (WHO)
Cục máu đông xuất hiện sẽ làm tắc mạch máu dẫn tới các cơ quan, các mạch máu càng nhỏ, nguy cơ bít tắc càng cao. Trên thực tế những cơ quan càng quan trọng thì những mạch máu càng bé nhỏ và dễ bít tắc. Do vậy cục máu đông được xác định là nguyên nhân trực tiếp của những bệnh tim mạch nguy hiểm như: bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, suy tim, bệnh động mạch ngoại vi và bệnh mạch máu thận. Những biến chứng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh mà còn gây ra những gánh nặng lớn về chi phí điều trị cho cả gia đình và xã hội.


Posted By Nguyen Minh Quang11:37 PM

Đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim cục bộ

Filled under:

Tuy không phải là tất cả nhưng phần lớn những bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim đều có biểu hiện đau thắt ở ngực bên trái và lan xuống cánh tay trái, cơn đau có thể thoáng qua làm người bệnh không chú ý đến hoặc có khi kéo dài vài ba phút làm họ phải nhập bệnh viện.
Tuy nhiên, cũng có những người bị nhồi máu cơ tim mà không hề có cơn đau thắt ngực trước đó.
Tại sao lại đau thắt ngực?
Đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim cục bộ xuất hiện khi mức độ cung cấp oxy cho cơ tim bị thiếu hụt so với nhu cầu. Mức độ tiêu thụ oxy của cơ tim liên quan đến ba yếu tố, đó là mức độ căng của cơ tim, tình trạng co bóp của cơ tim và nhịp tim. Một khi ba yếu tố trên thay đổi nó sẽ làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim. Tất cả lượng oxy cung cấp cho cơ tim đều do động mạch vành tim cung cấp.
Vì một lý do nào đó, thường là do xơ vữa động mạch, động mạch vành bị hẹp lại hay tắc hẳn sẽ gây ra tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng cơ tim, nhất là khi tim tăng cường hoạt động do vận động thể lực hay do tăng cảm xúc khi bị stress. Khi đó sẽ xuất hiện những cơn đau thắt ngực bên trái và lan xuống cánh tay trái, nhất là khi khẩu kính của động mạch vành hẹp trên 70% so với khẩu kính bình thường.

Những nguyên nhân chính gây thiếu máu cục bộ cơ tim
Phần lớn các cơn đau thắt ngực đều xảy ra ở những người có cao huyết áp, xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa trong đó có rối loạn chuyển hóa chất béo, acid uric và đái tháo đường… Một số nguyên nhân khác hiếm gặp hơn đòi hỏi sự chẩn đoán chính xác của thầy thuốc chuyên khoa tim mạch như: hẹp lỗ động mạch vành, hẹp động mạch chủ ngực, bóc tách động mạch chủ ngực…
Để chẩn đoán tình trạng thiếu máu cơ tim cục bộ, bệnh nhân được khám lâm sàng ở một bác sĩ chuyên khoa tim mạch, nếu có các triệu chứng lâm sàng: béo phì, đái tháo đường, hút thuốc lá, tuổi trên 40, cao huyết áp, có các dấu hiệu của xơ vữa động mạch… Bệnh nhân sẽ được đo điện tim để phát hiện những dấu hiệu của thiếu máu cơ tim trên điện tâm đồ. Sau đó là siêu âm tim, nhằm phát hiện những vị trí giảm động do thiếu máu cơ tim…
Làm gì khi bị cơn đau thắt ngực?
Phải điều trị thôi, điều trị bằng thuốc giãn mạch, thuốc tăng cường máu đến cơ tim, thuốc giảm mỡ trong máu và nhiều loại thuốc khác nữa, tùy theo những triệu chứng mà bệnh nhân có.
Một phương pháp điều trị khác cũng khá hiệu quả đó là chụp, nong động mạch vành và đặt giá đỡ (stent) làm cho chỗ hẹp rộng ra, máu lưu thông dễ dàng. Có hai loại stent được đặt vào chỗ hẹp là stent có thuốc kháng đông và stent không có thuốc kháng đông. Tuy nhiên, giá thành của phương pháp này hiện còn khá cao so với thu nhập của người dân Việt Nam.
Một phương pháp nữa hầu như là giải pháp cuối cùng nếu động mạch vành bịp nhiều trên 80% hay tắc hoàn toàn đó là phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Vật liệu để bắc cầu hiện nay tốt nhất vẫn là các mạch máu của chính bệnh nhân như động mạch ngực trong, động mạch quay, tĩnh mạch hiển lớn…
(Sức khỏe đời sống)

Posted By Nguyen Minh Quang11:36 PM

Bảo vệ tim sau tuổi 30

Filled under:

Bước sang tuổi 30 trở đi, cuộc sống ngày càng trở nên căng thẳng và phức tạp hơn. Sự nghiệp của bạn đang trên đà thuận lợi, có thể bạn cũng đã kết hôn và có con, bạn đang có kế hoạch thực hiện một loạt thay đổi trong cuộc sống…? Tất cả các yếu tố này đều góp phần đe dọa sức khỏe của bạn nếu bạn không biết cách cân bằng mọi thứ trong cuộc sống.
Căng thẳng tăng lên đồng nghĩa với tăng nguy cơ bệnh tim. Đó chính là lý do tại sao tim bạn phải chịu nhiều áp lực khi bạn bước sang độ tuổi 30.
Có rất nhiều cách để tránh các nguy cơ bệnh tim và bảo vệ tim ở độ tuổi này và tận hưởng cuộc sống của bạn. Bạn hãy thực hiện theo các quy tắc sau đây nhé.

Tránh xa căng thẳng trong công việc và gia đình
Càng thư giãn càng giúp cơ thể bạn điều chỉnh được mức độ căng thẳng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng tập thể dục, dưới mọi hình thức, là cách tốt nhất để xả stress và thư giãn.
Căng thẳng về tâm lý gây tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và do vậy gây ảnh hưởng xấu đến thành mạch, làm rối loạn tuần hoàn và tăng nguy cơ gây tổn thương các tế bào nội mạc, làm tăng tính thấm của tế bào nội mạc và do vậy làm tăng nguy cơ lắng đọng cholesterol xấu, gây hình thành và phát triển vữa xơ động mạch và dẫn tới thiếu máu cục bộ cơ tim.
Tập thể dục thường xuyên
Tập thể dục giúp tăng tuần hoàn trong cơ thể, đốt cháy mỡ thừa, tăng cường chức năng hoạt động của các bộ phận trong cơ thể. Do đó, tập thể dục rất tốt cho cơ thể. Không những thế, thể dục là cách tốt nhất để loại bỏ căng thẳng, mà loại bỏ căng thẳng tức là góp phần làm cho tim khỏe mạnh.
Trong các hình thức tập thể dục thì đi bộ được chứng minh rất tốt cho sức khỏe tim mạch, bạn có thể đi bộ mọi nơi, mọi lúc với các tốc độ khác nhau. Các hình thức tập thể dục khác như đi xe đạp, tập yoga, bơi… cũng rất tốt cho tim, giúp bảo vệ tim hiệu quả. Chỉ cần bỏ ra 30-60 phút mỗi ngày để tập thể dục là bạn sẽ giảm được nguy cơ mắc bệnh tim mạch, kiểm soát được các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và béo phì.
Ăn uống lành mạnh
Rất nhiều chị em vì quá mải mê với công việc mà không chú trọng đến việc ăn uống của mình, thậm chí còn lựa chọn những thực phẩm không có lợi cho sức khỏe. Những thực phẩm không lành mạnh có thể tăng lên đến lượng calo của bạn và mức cholesterol và làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, ảnh hưởng đến sức khỏe của tim và tăng nguy cơ bệnh tim. Để tránh nguy cơ bị bệnh tim mạch, bạn nên có chế độ ăn uống giảm muối; giàu kali; nhiều rau, trái cây, ngũ cốc; tránh thức ăn chế biến, tránh chất béo bão hòa và đồ uống nhiều đường…
Ăn nhiều cá cũng có lợi cho sức khỏe tim mạch. Cá là nguồn giàu protein và các chất dinh dưỡng khác. Nó cũng chứa các acid béo omega-3, giúp giảm nguy cơ về bệnh tim mạch và đột quỵ. Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyên dùng ít nhất 2 khẩu phần cá giầu acid omega-3 một tuần như cá hồi.
Ngủ đủ giấc
Ngủ ít hơn 5 giờ mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ tim. Hãy chắc chắn rằng bạn ngủ ngon, duy trì thời gian ngủ và thức dậy hàng ngày theo đúng và thức dậy thời gian và tránh hút thuốc hoặc uống rượu quá nhiều trước khi đi ngủ.
Theo nghiên cứu vừa được công bố của các nhà khoa học thuộc Đại học California (Mỹ), nguy cơ mắc các bệnh tim mạch ở những người thường xuyên duy trì giấc ngủ trưa (khoảng 30 phút/lần và ít nhất 3 lần/tuần) sẽ giảm 37% so với những người không có thói quen này. Ngoài ra, giấc ngủ trưa còn giúp cơ thể thư giãn, phục hồi trí óc, tinh thần sảng khoái và rất có lợi cho những người mắc bệnh huyết áp cao và người cao tuổi.
Ăn sáng đầy đủ
Cho dù bạn bận công việc đến đâu thì cũng không bao giờ bỏ bữa ăn sáng mà ngược lại, bạn cần phải ăn bữa sáng bổ dưỡng và đủ dinh dưỡng mỗi ngày. Nó thực sự là rất quan trọng để ăn một bữa ăn sáng lành mạnh và bổ dưỡng. Một bữa ăn sáng tốt cho cơ thể của bạn nhiên liệu cần thiết để có được hoạt động và ở phù hợp.
Nhịn ăn sáng là một trong những nguyên nhân dẫn đến béo phì, hàm lượng cholesterol cao, và gia tăng tích trữ lượng mỡ quanh bụng- đây chính là 3 yếu tố chính gây nên bệnh tim.
Không những thế, thường xuyên nhịn ăn sáng còn khiến bạn nằm trong nguy cơ dễ mắc bệnh tiểu đường vì nó kích thích hàm lượng insulin trong máu.
Sử dụng biện pháp tránh thai hợp lý
Ở độ tuổi 30, chắc chắn nhiều chị em cần sử dụng đến các biện pháp tránh thai để không mang thai ngoài ý muốn. Nhưng lựa chọn biện pháp tránh thai cũng cần phù hợp với sức khỏe của bạn.
Nếu bạn có nguy cơ bị huyết áp cao hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh tim thì tốt nhất bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ khi chọn tránh thai bằng thuốc hoặc miếng dán. Các phương pháp này có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim của bạn phát tác, ảnh hưởng đến sức khỏe.
(Theo Tri thức trẻ)

Posted By Nguyen Minh Quang11:35 PM